Y học và đời sống

Đại kế thay mật gấu làm tan chấn thương

i kế là một trong 32 cây có tác dụng rất tốt trong điều trị chấn thương, tụ huyết giống mật gấu. Sử dụng dược thảo này để góp phần bảo vệ loài gấu thuộc nhóm hoang dã, nguy cấp, quý hiếm nghiêm cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại.
đại kế

Đại kế thay mật gấu làm tan chấn thương.

Mật gấu có tên thuốc là “hùng đởm” dùng để chữa một số chứng trạng có biểu hiện ứ huyết do nhiều nguyên nhân như: chấn thương, trật tả, xung huyết … Vị hùng đởm có tác dụng chính là hoạt huyết, hành huyết, khứ ứ, tán ứ huyết bình can, tức phong minh mục. Cùng nhóm thuốc có những tác dụng trên thì nhiều vị thuốc từ thảo mộc như đại kế cũng có tác dụng tương tự.

Đại kế (cây ô rô, ô rô cạn) là cây thảo sống lâu năm, rễ hình thoi dài, có nhiều rễ trụ. Cây mọc hoang ở các tỉnh: Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình…Thân thẳng cao 50-80cm, màu lục, có nhiều rãnh dọc, nhiều lông. Lá mọc so le không cuống. Phiến bầu dục có 4-5 thùy sâu, mép có hình răng cưa, không đều, nhọn, góc hẹp, có tai nhỏ ôm thân. Cụm hoa to hình đầu đường kính 1,5cm, mọc ở kẽ lá hay đầu cành, đường kính chừng 3-5cm, cánh hoa màu tím đỏ; Lá bắc có nhiều lông và có gai. Quả bế thuôn hơi dẹt, cao 2-3mm, lông mào dài 1,5cm. Ra hoa tháng 5-7, quả tháng 8-10.

Bộ phận dùng làm thuốc: thu hái toàn cây vào mùa hè, mùa thu, rửa sạch, phơi khô gọi là Đại kế. Thành phần hóa học: cây chứa tinh dầy, glucozit, trong lá có pectolinarin.

Đại kế vị đắng hơi ngọt, tính mát vào các kinh: Tâm, can, tiểu tràng, bàng quang. Tác dụng: tan máu ứ, tiêu sưng tấy, cầm máu. Công dụng: chữa nục huyết, thổ huyết, niệu huyết, tiện huyết, băng lậu hạ huyết, chấn thương tụ máu, xuất huyết; Chữa vàng da, phù thận, vú sưng, ung thũng sang độc; Dùng ngoài trị mụn nhọt độc, ghẻ lở.  Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc, dùng ngoài giã nát đắp lên vết thương.

DS Phạm Hinh

(Phó chủ tịch Hội Đông Y Việt Nam)

BẢN DESKTOP